Vụ án Adalate và cái chết của một thai nhi

TRẦN HỒNG PHONG

Lời ngỏ:

Cuối tháng 8-2003, tại TP.HCM có một vụ án gây sự chú ý lớn trong dư luận. Đó là vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại nhân mạng là một thai nhi với số tiền lên tới cả tỷ đồng. Bị đơn là Bệnh viện phụ sản Quốc Tế, nguyên đơn là một sản phụ bị chết thai sau một ca điều trị cấp cứu.

Kết quả xét xử của vụ án này là Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn. Tuy nhiên, dư âm của vụ án, với nỗi hoài nghi về vấn đề chuyên môn : sử dụng thuốc chống chỉ định cho sản phụ là đúng hay sai, thì vẫn còn đó.

Haimat.vn đăng lại bài viết về vụ án này – như là một tài liệu tham khảo về các vụ kiện trong lĩnh vực y khoa tại Việt Nam.

Tại sao lại dùng thuốc chống chỉ định đối với thai phụ ?

Nguyên tôi có thai 5 tháng (20-22 tuần tuổi). Tôi đi khám tại Trung Tâm bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, xác định tử cung bị hở ngoài ít. Để an toàn, 8 giời sáng ngày 26-11-2002 tôi đã đến bệnh viện phụ sản quốc tế trên đường Bùi Thị Xuân Q.1 (TP.HCM) để khâu eo cổ tử cung đề phòng khi vận động nặng ảnh huởng đến thai nhi.

Trong bệnh viện có chỉ định bác sĩ Danh và bệnh viện đã gọi mời BS Danh từ bệnh viện Từ Dũ tới may cổ tử cung cho tôi. 11 giờ bắt đầu vào phòng phẫu thuật, sau khi may xong tôi tỉnh dậy, rất vui mừng khi BS Danh thông báo cho tôi việc may đã hoàn toàn tốt đẹp, siêu âm nghe tim thai đều bình thường, tôi chỉ phải ở lại bệnh viện cho khoẻ rồi về, rồi BS chào tôi ra về. Sau đó một lúc tôi thấy thai gò, Y tá đặt thuốc hậu môn cho tôi.

Một lúc sau có một BS mà mọi người gọi là Đức tới xem toa thuốc đang dùng và nói không dùng nữa, ghi toa khác gồm những thứ gì tôi không biết nhưng có nghe được BS dặn Y tá lấy thuốc tên ADALATE cắt rồi nhỏ vào miệng cho ngậm dưới lưỡi. Tôi đang ngậm thuốc thì có một bác sĩ khác đi qua xem toa thuốc bác sĩ Đức cho rồi hỏi: Sao lại dùng thuốc này à?. Y tá báo lại là thuốc bác sĩ Đức cho, Bác sĩ trẻ này nhắc điện thoại gọi cho một bác sĩ mà bác sĩ trẻ nèy gọi là thầy trao đổi về việc sử dụng thuốc, sau đó đứng lại xem một lúc rồi đi. Y tá nhỏ cho tôi ngậm đồng thời dùng máy đo cơn gò theo dõi, cơn gò giảm bớt Y tá gỡ máy ra.

Tôi ngậm hết viên thứ nhất, cơn gò tử cung giảm và tôi thấy khó chịu trong người; tôi đã chủ động xin thôi không ngậm nữa, Y tá vẫn yêu cầu tôi ngậm tiếp, liên tục tất cả là 4 viên ADALATE. Khoảng hơn 16 giờ đến 17 giờ chuyển tôi từ phòng chăm sóc đặc biệt đến phòng nghỉ số 516. Các Y tá trực tại đây nghe kiểm tra tim thai cho tôi ngay khi tôi còn nằm trên cáng thì không thấy tim hoạt động, chuyển đi siêu âm xác định thai đã chết lưu. (Như vậy tim thai đã ngừng ngay khi còn ở phòng chăm sóc đặc biệt mà không phát hiện). Vào lúc này mọi người đi đâu hết không ai giải thích cho gia đình tôi biết vì sao thai nhi bị chết. Tại bàn thường trực, chồng tôi có nghe bác sĩ nữ gọi tên Tâm điện thoại cho một bác sĩ khác báo đã sử dụng thuốc ADALATE và bây giờ tim thai không có, thai đã chết.

Bệnh viện phụ sản Quốc tế chuyển tôi sang bệnh viện Từ Dũ nhưng không hề chuyển hồ sơ và các xét nghệim của tôi theo. Tại Từ Dũ tôi bị sốc, yếu sợ lấy máu xét nghiệm, các bác sĩ Từ Dũ phải nhắn người nhà tôi về nhà lục tìm các kết quả xét nghiệm cũ của những lần đi khám định kỳ mang đến. Như vậy bệnh viện phụ sản Quốc tế đã không tạo điều kiện cho đồng nghiệp tại bệnh viện Từ Dũ giải quyết hậu quả do mình gây ra.

Trước khi vào viện, và trước khi may co cổ tử cung tôi rất hồ hởi và hoàn toàn bình thường, không có tiền sử về bất kỳ bệnh nào. Sau khi may tôi hoàn toàn tỉnh táo, sức khoẻ tốt và trong lòng rất mừng. Vậy con tôi đã chết oan. Chúng tôi đến bệnh viện chấp nhận chi trả giá cao để hy vọng được chăm sóc an taòn và chu đáo hơn nơi khác. Nhưng cuối cùng vì sự vô trách nhiệm của bệnh viện đã gây ra tai nạn lớn cho vợ chồng tôi và cả gia đình chồng tôi.

Được biết thuốc ADALATE chống chỉ định đối với thai phụ trong suốt thời kỳ thai ngén và những người đang cho con bú. (Em bé bú sữa mẹ cũng sẽ gặp nguy hiểm nếu người mẹ sử dụng thuốc này).

Tại sao khi cơn gò tử cung đã giảm, gỡ máy đo gò ra mà vẫn tiếp tục cho tôi uống loại thuốc chống chỉ định này? Tại sao thai suy và đã chết trong phòng chăm sóc đặc biệt mà không phát hiện vẫn chuyển tôi lên phòng nghỉ 516 ?

Tôi yêu cầu bệnh viện phụ sản Quốc tế bồi thường cho tôi toàn bộ chi phí cho các dịch vụ sinh con theo ý muốn, chi phí thời kỳ thai ngén, dưỡng bệnh … như đã trình bày trong đơn kiện.

( Trích theo Đơn trình bày của nguyên đơn Nguyễn Thị Thơ trong hồ sơ vụ án)

 

Vụ án Adalate và cái chết của một thai nhi

Tuần qua, TAND quận 1 đã đưa ra xét xử sơ thẩm một vụ án khá lạ: sản phụ đòi bồi thường thiệt hại từ cái chết một thai nhi vì cho rằng bác sĩ đã dùng sai thuốc trong điều trị. Bản án đã tuyên nghiêng về phía bị đơn, vì về mặt pháp luật nguyên đơn không có đủ chứng cứ để chứng minh cho lập luận của mình. Tuy nhiên, theo chúng tôi, điều lớn nhất trong vấn đề này là khoa học, không chỉ vì nỗi đau không gì bù đắp nỗi của một đôi vợ chồng, không chỉ vì danh dự và uy tín của một bệnh viện, mà còn vì những trường hợp tương tự trong tương lai.

 


 

Bài đăng trên báo Pháp luật TP.HCM ngày 4-9-2003

 

Cơn co cơ bất thường và cái chết của thai nhi

Ngày 26-11-2002, chị Nguyễn Thị Thơ (đang mang thai tháng thứ năm) tới bệnh viện phụ sản Quốc tế khâu tử cung do bị “hở cung ngoài”. Bác sĩ Nguyễn Anh Danh (Bệnh viện phụ sản Từ Dũ) tiến hành phẫu thuật vào lúc 11 giờ. Sau đó, chị Thơ được bác sĩ danh chỉ định đặt một viên Salbutamol 1mg ở hậu môn, tiêm tĩnh mạch thuốc giảm co Spasfon 40 mg và chuyển về phòng nghỉ. Khoảng hai giờ sau khi xuất hiện các cơn co cơ tử cung mạnh, gây nên tình trạng “doạ sinh con”. Khi đó, bác sĩ Phạm Thành Đức, Phó Giám đốc phụ trách chuyên môn, được mời đến xử lý đã ra lệnh sử dụng Adalate đặt dưới lưỡi thai phụ bốn lần, mỗi lần một viên sau mỗi giờ. Dưới tác dụng của Adalate, các cơn co đã giảm rõ. Tuy nhiên, đến 17 giờ 30 phút thì phát hiện mất tim thai.

* Bác sĩ cho dùng thuốc: Nguy cơ lúc đó rất lớn. Thực tế đã dùng an toàn nên cho sử dụng. Vấn đề là cứu sống bệnh nhân.

* Phía nguyên đơn: Nhà sản xuất đã ghi rõ là chống chỉ định cho phụ nữ có thai, bác sĩ cũng không hỏi ý kiến bệnh nhân mà lại cho dùng.

* Toà: Không xác định được nguyên nhân làm chết thai nhi có phải do dùng thuốc hay không nên không thể quy lỗi cho bác sĩ.

Gia đình chị Thơ đã khởi kiện dân sự đòi bồi thương thiệt hại vì cho rằng chính việc chỉ định dùng Adalate là loại thuốc “chống chỉ định – không dùng cho phụ nữ có thai” đã gây nên cái chết của thai nhi.

Bác sĩ đã xử lý đúng?

Bác sĩ Phạm Thành Đức trình bày: “Máy theo dõi ghi nhận tần suất co cơ của thai phụ là bốn lần/10 phút. Do co bóp, thai nhi sẽ bị đẩy ra ngoài hoặc tử cung có thể bị vỡ, gây xuất huyết, có thể tử vong.

Nguy cơ lúc đó rất lớn cho cả mẹ và thai. Bác sĩ Danh trước đó đã nhét một viên Salbutamol nhưng cơn co không dứt. Nếu cứ như vậy, điều gì sẽ xảy ra? Tôi đã dùng thuốc giảm co an toàn nhất, đã sử dụng ở bệnh viện Hùng Vương từ nhiều năm nay và trên thế giới. Rõ ràng đã có kết quả. Theo tôi, có khả năng em bé mất tim thai do co cơ trước đó".

Chủ tọa hỏi:

- Adalate là thuốc trị huyết áp, chống chỉ định cho phụ nữ mang thai. Vậy sao ông vẫn chỉ định?

- Đó là hướng dẫn chung chứ không phải phải cho từng bệnh nhân cụ thể. Thuốc này đã sử dụng và nghiên cứu trên 200 trường hợp đều cho thấy an toàn. Thông tin y học mới nhất về sản khoa Obstetrical & Gynecological tháng 5-2002 cũng cho thấy nghiêm trọng, trong khi Adalate đã dùng phổ biến và an toàn, sao không dùng để cứu bệnh nhân? Nếu nói do Adalate làm chết thai nhi là vô lý quá lớn, chính nhờ nó mà thai phụ không bị vỡ tử cung, được sống.

- Ngoài việc giảm co bóp, Adalate còn có tác dụng gì?

- Làm giảm huyết áp. Thuốc này đối với người cao huyết áp thì giảm, còn người huyết áp bình thường thì không giảm.

Lương tâm – pháp luật: Bên nào nặng hơn?

Luật sư Phan Đăng Thanh, bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn, hỏi bác sĩ Đức:

- Bộ y tế đã kết luận thuốc này không dùng cho phụ nữ có thai, ông có thấy mình đã vi phạm?

- Vấn đề là mạng sống con người.

- Theo quy định, nếu dùng thì phải hỏi ý kiến bệnh nhân trước?

- Lúc đó là cấp bách, đe doạ nguy hiểm tính mạng, làm sao mà giải thích luật, tác dụng của thuốc cho bệnh nhân được? Cần can thiệp nhanh chóng. Đối với bác sĩ, mạng sống của bệnh nhân là trên hết. Nếu gặp trường hợp khác, tôi cũng sẽ làm như vậy!

- Ông cần phải nhớ đó là thuốc độc?

- Thuốc này không phải là thuốc giết người. Trong y khoa, sử dụng thuốc độc cứu người rất nhiều, vấn đề là người bác sĩ phải biết, phải nắm chắc để sử dụng.

Luật sư Thanh cho rằng không thể nhân danh lương tâm, nghiệp vụ mà vượt qua pháp luật. Theo ông, uống Adalate vào thì thai chết. Như vậy rõ rang đây là nguyên nhân. Muốn giữ thai mà lại dùng thuốc kỵ thai là hoàn toàn phản khoa học. Bác sĩ Đức đã có lỗi vì quá tự tin.

Toà: Bác sĩ đã xử lý hợp lý

Theo hội đồng xết xử, vào thời điểm đó, nguy cơ doạ sinh con là có thật, nếu không xử lý kịp thời có thể dẫn đến sinh non, bể tử cung. Nếu chị Thơ không đồng ý dùng Adalate thì phải cho sinh con non nhưng khi đó, thai nhi cũng không nuôi được. Mặt khác, sau khi cho ngậm Adalate ba lần thì đã giảm rõ các cơn gò tử cung. Như vậy, vấn đề ở đây là: bác sĩ Đức cho dùng Adalate có hợp lý không và đó có phải là nguyên nhân gây chết thai nhi?

Vụ án đặt ra vấn đề cơ bản:

Trong những tình huống cấp bách, để cứu sống bệnh nhân, bác sĩ có được “rộng tay” xử lý, thậm chí vượt lên khung pháp luật hiện hành?

Đối với hai công văn của Hội đồng khoa học công nghệ Sở Y tế Tp. HCM và vụ Bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em và Kế hoạch hoá gia đình (thuộc Bộ y tế) với nhận định “không thể kết luận Adalate là nguyên nhân gây chết cho thai nhi vì không có đủ dữ kiện”, phía nguyên đơn cho rằng những văn bản này không có giá trị pháp lý vượt qúa thẩm quyền chuyên môn. Hơn nữa, việc sử dụng thuốc phải được Bộ Y tế cho phép, trong khi công văn nói “có sử dụng thử nghiệm trong những trường hợp doạ sinh con” mà việc thử nghiệm này lại do chính bác sĩ Đức tiến hành.

Hội đồng xét xử cho rằng về luật, dù có những quy định ràng buộc nhưng trong thực tế, khi tính mạng của chị Thơ bị de doạ thì theo quy định tại luật dân sự, “bên thực hiện dịch vụ có quyền thay đổi dịch vụ vì lợi ích của bên thuê”. Việc xử lý thuốc của bác sĩ Đức hoàn toàn hợp lý. Không có cơ sở để kết luận Adalate gây chết thai nhi. Do vậy, bác đơn của chị Thơ.

Vấn đề không thể bỏ ngỏ

Có mặt tại toà, chúng tôi tin về mặt lương tâm, bác sĩ Đức đã thật sự cố gắng, quyết đoán và thậm chí dũng cảm trong trường hợp này. Tuy nhiên, khoa học không thể có sự nửa vời. Quyền chỉ định thuốc (kê toa) là một trong những quyền quan trọng nhất của nguời bác sĩ. Họ có thể vượt ra ngoài những khuôn khổ quy định thông thường vì tính mạng của bệnh nhân. Song, cũng chính vì vậy, trách nhiệm của ngừơi bác sĩ cũng cần phải đặt lên với yêu cầu cao nhất. Ở đây, vấn đề cần phải đẩy đến tận cùng.

 

(ảnh minh họa)

 

Trong trường hợp bệnh nhân rơi vào tình huống thập tử nhất sinh thì người bác sĩ có quyền đặt tính mạng bệnh nhân lên trên tất cả, vượt qua những ràng buộc của pháp luật nhưng vượt qua mức nào và họ phải chịu trách nhiệm đến đâu về sự vượt qua ấy?

Bác sĩ không muốn, không thế, không kịp giải thích với bệnh nhân về một liệu pháp y học, tác dụng của một loại thuốc…là tình huống rất thừơng xảy ra. Ràng buộc pháp lý trong vấn đề này ra sao, có “khoảng hở” nào đó hay phải nhất nhất tuân thủ? Vi phạm điều ấy là lỗi gì – lương tâm nghề nghiệp hay pháp lý?

Về mặt chuyên môn y học, cũng cần xử lý rốt ráo:

Trong trường hợp này, nếu phương pháp xử dụng Adalate trong điều trị doạ sinh non có kết quả tốt, cần được đánh giá khách quan, ghi nhận và phổ biến rộng rãi.

Nhưng nếu cái chết có nguyên nhân từ Adalate thì vì lợi ích, sức khoẻ của nhiều bệnh nhân khác trong tương lai, toà án cần khuyến cáo các cơ quan chức năng nghiêm cấm việc sử dụng Adalate trong những trường hợp tương tự.

Vụ án chưa khép lại, chúng ta hãy cùng chờ đợi phán xét của toà phúc thẩm.
 

 

Trả lời của Cơ quan chuyên môn Nhà nước:

* Biên bản số 1748/SYT – NVY của Hội đồng khoa học công nghệ Sở Y tế Tp. HCM ngày 5-6-2003 có nội dung: “ Việc BS Phạm Thành Đức sử dụng Adalate ( với liều lượng được ghi trong bệnh án) trong trường hợp sản phụ có cơn co gò tử cung gây doạ non là hợp lý, vì nếu không xử lý cấp cứu kịp thời thì có thể dẫn đến suy thai, chết thai, rách cổ tử cung và có thể vỡ tử cung.”

* Công văn số 863/BMTE của Vụ Bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em và Kế hoạch hoá gia đình (thuộc Bộ y tế): “Chưa có đủ dữ liệu nên không thể kết luận được trường hợp của chị Nguyễn Thị Thơ mất tim thai là do Adalate”.

-----------------------------------------

Phần mới bổ sung: Lời tác giả bài báo (luật sư Trần Hồng Phong)

Không hối hận nhưng cảm thấy tiếc !

Bài báo trên tôi đã viết trong bối cảnh đi ngược lại với số đông các báo khác – xét về mặt quan điểm.

Khi viết bài báo trên, với hàm ý bênh vực cho bác sỹ Phạm Thành Đức, tôi có một niềm tin vào đạo đức và tư cách của ông. Lý do là vì tôi đã từng có mối quan hệ quen biết với bác sĩ Đức trong một thời gian dài. Trong thời gian 1995-2000, tôi làm kế toán trong Bệnh viện phụ sản Hùng Vương TP.HCM. Thời gian này bác sĩ Đức là một Trưởng khoa trong bệnh viện, có uy tín rất cao và luôn dành được sự kính trọng, ngưỡng mộ của mọi người trong bệnh viện. Cũng chính vì vậy mà ngay sau khi về hưu, bác sĩ Đức được Bệnh viện phụ sản Quốc Tế - là bệnh viện phụ sản tư nhân đầu tiên tại Việt Nam, mời về phụ trách chuyên môn. Và cũng chính vì vậy mà tôi luôn có niềm tin vào vị bác sĩ này. Tôi tin là bác sĩ Đức đã làm điều mà ông cho rằng cần thiết nhất đối với sản phụ. Tới nay vẫn vậy.

Sau khi bài báo đăng, một số người quen cũ ở bệnh viện Hùng Vương có gọi điện cho tôi bày tỏ sự đồng tình với bài báo. Có bạn đọc còn gửi thư cho tôi, bày tỏ quan điểm chia xẻ và đồng tình với lời bình “nhà giàu đứt tay ăn mày đổ ruột”. Ý nói chẳng qua phía nguyên đơn trong vụ án này vì quá giàu, nên mới làm lớn chuyện như vậy, trong khi bác sĩ đã tận tình cứu chữa.

Tuy nhiên, sau phiên tòa sơ thẩm và sau khi bài báo đã đăng khoảng 1 tháng, tôi có gặp một anh bạn là bác sĩ. Anh bạn này đã nói với tôi rằng theo anh thì bác sĩ Đức đã sai. Sai vì sự chủ quan của mình. Theo anh bạn bác sĩ, không phải “thích” mà người ta qui định chống chỉ định thuốc Adalate, là thuốc hạ huyết áp, dùng cho phụ nữ đang mang thai.

Ý kiến chuyên môn của người bác sĩ (bạn tôi) đại ý như sau:

Chúng ta đều biết rằng thai nhi khi ở trong bụng mẹ sống được là nhờ nguồn chất dinh dưỡng thông qua một cơ quan duy nhất là ống nhau (cuống rốn). Các chất dinh dưỡng, bao gồm cả máu - từ người mẹ sẽ được truyền đến người con thông qua “con đường” này. Mà huyết áp chính là “lực đẩy” đưa máu đi khắp nơi trong cơ thể, trong đó có việc đưa tới thai nhi. Do vậy, nếu huyết áp bị hạ (xuống thấp) thì sẽ không còn đủ lực để đẩy máu tới thai nhi, thậm chí có thể gây tử vong cho người mẹ. Một khi đường tiếp tế chất dinh dưỡng bị cắt thì thai nhi bị ảnh hưởng sẽ là điều tất yếu. Hay nói cách khác, chính việc sử dụng Adalate trong trường hợp này đã là nguyên nhân gây ra cái chết của thai nhi.

Sau khi nghe ý kiến trên, tôi đã … lặng người và cảm thấy mình đã sai lầm. Không hiểu vì sao tôi có cảm giác ấy !

Tôi về xem lại biểu đồ đo huyết áp của bệnh nhân (sản phụ) tại thời điểm trước, trong và sau khi uống Adalate. Và thấy rằng sau khi uống adalate, huyết áp của sản phụ đúng là đã tụt xuống mức dưới 50 (trong khi đối với người thông thường là 70/110. Tôi không phải là người có chuyên môn nên chỉ có thể diễn đạt một cách nôm na như vậy).

Qua đó, tôi cảm thấy mình đã viết một bài báo không sai, nhưng “dốt” vì thiếu hiểu biết về chuyên môn. Và bài báo của tôi phải chăng vô hình chung đã có phần “bênh vực” cho một sự sai phạm? Đó là điều làm tôi cảm thấy day dứt.

Sau đó, tôi có gặp luật sư Phan Đăng Thanh, là người đã bảo vệ quyền lợi cho phía nguyên đơn tại phiên Tòa sơ thẩm, nói rằng tôi đã biết “chìa khóa” để có thể thắng kiện trong vụ án này. Và sẵn sàng trao “chìa khóa” đó cho luật sư Phan Đăng Thanh. Nhưng luật sư Thanh nói là gia đình phía nguyên đơn đã không mời ông tiếp tục tham gia trong giai đoạn xét xử phúc thẩm.

Vụ án trên sau đó đã xét xử phúc thẩm và theo thông tin tôi biết ( có đăng trên các báo) thì án phúc thẩm đã tuyên y án sơ thẩm, khép lại một vụ án gây tranh cãi trong lĩnh vực y tế.

Thời gian trôi qua nhanh, tôi cũng không còn làm ở báo Pháp luật TP.HCM nữa. Đối với bài báo trên, tôi không cảm thấy hối hận. Tuy nhiên, tôi cảm thấy thực sự tiếc nuối vì sự thiếu hiểu biết trong lĩnh vực y khoa của mình – điều mà lẽ ra mình cần tìm hiểu khi viết báo. Vì nếu biết về chuyên môn, có thể bài báo của tôi đã khác đi.